Nhảy tới nội dung

Danh mục tiểu khoản

Đường dẫn: Phân hệ → Kế toán tổng hợp → Danh mục → Danh mục tiểu khoản
Các tiểu khoản sẽ được mở cho các đối tượng mà danh sách các đối tượng này ít thay đổi theo thời gian. Ví dụ: danh mục mã các khoản mục phí, danh mục các ngành hàng kinh doanh, danh mục các bộ phận hạch toán, các tài khoản ngân hàng, tài khoản tiền vay...
Trong trường hợp phát sinh thường xuyên, không thể dùng danh mục tiểu khoản vì có thể làm cho danh mục tài khoản hạch toán sẽ rất nhiều chi tiết. Đối với các đối tượng này nên sử dụng các danh mục khác để theo dõi, ví dụ: danh mục vụ việc, danh mục từ điển tự do...
Thông thường có nhiều tài khoản khác nhau nhưng lại có cùng các tiểu khoản, tiết khoản chi tiết giống nhau. Để tiện cho việc khai báo và tiết kiệm thời gian khai báo cũng như tiện lợi cho việc tra cứu, các tiểu khoản được khai báo riêng trong một danh mục. Ngoài ra, để chỉ rõ các tiểu khoản nào thì gắn với tài khoản nào sẽ có một danh mục nhóm tiểu khoản dùng để liên kết danh mục tài khoản và danh mục các tiểu khoản. Khi khai báo các tiểu khoản ta phải phân chúng vào nhóm tiểu khoản nào và khi khai báo các tài khoản nếu có các tiểu khoản thì ta phải khai báo tài khoản này có các tiểu khoản thuộc nhóm nào.
Nếu như số lượng tiểu khoản không quá nhiều thì ta chỉ việc khai báo trong danh mục các tài khoản chính.

Giải thích các trường

Tiểu khoản

Mã của tiểu khoản. Mã này là duy nhất trong danh mục, không được trùng nhau và không được để trắng.

Nhóm tiểu khoản

Nhóm tiểu khoản phải được khai báo trước trong “Danh mục nhóm tiểu khoản”.

Tên tiểu khoản/Tên 2

Tên, tên tiếng Anh của tiểu khoản. Tên của tiểu khoản không được để trắng.

Trạng thái

Ngầm định chương trình để ở trạng thái 1. Nếu chọn trạng thái 0 thì tiểu khoản này chỉ hiện lên khi cập nhật danh mục và khi lên báo cáo, không hiện lên khi nhập số liệu.